Thứ 4, Ngày 19 - 12 - 2018
SỐ LƯỢT TRUY CẬP
733700
FAQs


Thủ tục đòi lại đất nhờ người khác đứng tên sổ đỏ PDF. In Email
Thứ hai, 11 Tháng 10 2010 02:15

Theo luật sư Phạm Thanh Bình, nếu người em không chịu chuyển quyền sử dụng mảnh đất hoặc không chịu chuyển nhượng để trả tiền lại cho bạn thì bạn phải khởi kiện ra tòa án đề nghị bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình.
> Đòi lại đất nhờ người khác đứng tên sổ đỏ? (Ngô Du)

Theo quy định tại Điều 126 Luật nhà ở (đã được sửa đổi, bổ sung, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/9/2009) thì người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc các đối tượng sau đây được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cho phép cư trú tại Việt Nam từ ba tháng trở lên có quyền sở hữu nhà ở để bản thân và các thành viên trong gia đình sinh sống tại Việt Nam:

a) Người có quốc tịch Việt Nam;

b) Người gốc Việt Nam thuộc diện người về đầu tư trực tiếp tại Việt Nam theo pháp luật về đầu tư; người có công đóng góp cho đất nước; nhà khoa học, nhà văn hóa, người có kỹ năng đặc biệt mà cơ quan, tổ chức của Việt Nam có nhu cầu và đang làm việc tại Việt Nam; người có vợ hoặc chồng là công dân Việt Nam sinh sống ở trong nước.

2. Người gốc Việt Nam không thuộc các đối tượng quy định tại điểm b nói trên được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp Giấy miễn thị thực và được phép cư trú tại Việt Nam từ ba tháng trở lên thì có quyền sở hữu một nhà ở riêng lẻ hoặc một căn hộ chung cư tại Việt Nam để bản thân và các thành viên trong gia đình sinh sống tại Việt Nam.

Bên cạnh đó, Điều 121 Luật đất đai (đã được sửa đổi, bổ sung, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/9/2009) cũng quy định: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc các đối tượng quy định tại Điều 126 của Luật nhà ở có quyền sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam”.

Như vậy, nếu bạn thuộc một trong các đối tượng quy định tại Điều 126 của Luật nhà ở nói trên thì bạn có quyền sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam.

Do Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) mang tên em bạn nên về nguyên tắc, nếu bạn muốn bán mảnh đất đó thì bạn có thể thỏa thuận với người em trai bạn để người này đứng ra thực hiện các thủ tục pháp lý liên quan đến việc chuyển nhượng mảnh đất đó rồi chuyển trả tiền cho bạn. Nếu bạn muốn tự mình bán mảnh đất và bạn thuộc đối tượng có quyền sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất vừa nêu ở trên thì người em của bạn phải làm thủ tục chuyển nhượng (hoặc tặng cho) mảnh đất đó lại cho bạn, sau đó bạn mới được quyền định đoạt tài sản theo ý chí của mình.

Trong trường hợp người em không chịu làm thủ tục chuyển quyền sử dụng mảnh đất hoặc không chịu chuyển nhượng mảnh đất cho người thứ ba để trả tiền lại cho bạn, nếu không thỏa thuận được, bạn phải khởi kiện ra tòa án (cấp tỉnh, thành phố nơi có mảnh đất) để đề nghị tòa án giải quyết, buộc người em phải chuyển quyền sử dụng mảnh đất đó lại cho bạn.

Nếu bạn không thuộc đối tượng có quyền sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất vừa nêu ở trên thì bạn chỉ có thể nhận số tiền chuyển nhượng mảnh đất đó và làm thủ tục chuyển tiền ra nước ngoài. Khi khởi kiện ra tòa án, bạn cần xuất trình các chứng cứ về việc chuyển tiền về Việt Nam cho người em để tòa án xem xét, giải quyết, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bạn.

Thạc sĩ Phạm Thanh Bình
Công ty Luật Hồng Hà, Hà Nội

 
Tư vấn về sổ đỏ của nhà trong diện quy hoạch PDF. In Email
Thứ tư, 06 Tháng 10 2010 03:02

"Nếu nằm trong vùng quy hoạch nhưng nhà của bạn không thuộc đối tượng buộc phải thu hồi thì bạn vẫn tiếp tục thực hiện quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà", luật sư Nguyễn Thị Phượng tư vấn.
> Đất trong diện quy hoạch có được cấp sổ đỏ? (Thu Trà)

Theo thông tin bạn cung cấp, chúng tôi không rõ nhà của bạn nằm trong vùng quy hoạch nhưng có thuộc diện phải thu hồi đất hay không. Nếu nằm trong vùng quy hoạch nhưng nhà của bạn không thuộc đối tượng buộc phải thu hồi thì bạn vẫn tiếp tục thực hiện quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở trong phạm vi nội dung quy hoạch đồng thời có thể làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Đối với trường hợp nhà của bạn nằm trong khu quy hoạch và phải thu hồi thì chúng tôi cung cấp một số quy định để bạn tham khảo như sau:

Khoản 2, Điều 29 Luật đất đai năm 2003 quy định: “Trường hợp quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được công bố có diện tích đất phải thu hồi mà Nhà nước chưa thực hiện việc thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng thì người sử dụng đất được tiếp tục sử dụng theo mục đích đã xác định trước khi công bố quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; nếu người sử dụng đất không còn nhu cầu sử dụng thì Nhà nước thu hồi đất và bồi thường hoặc hỗ trợ theo quy định của pháp luật.

Nhà nước nghiêm cấm mọi hoạt động tự ý xây dựng, đầu tư bất động sản trong khu vực đất phải thu hồi để thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Trường hợp có nhu cầu cải tạo, sửa chữa nhà ở, công trình gắn liền với đất phải thu hồi mà làm thay đổi quy mô, cấp công trình hiện có thì phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép”.

Theo quy định tại khoản 1, Điều 14, Nghị định số 84/2007/NĐ-CP, hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có nhà ở, mà không có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều 50 của Luật Đất đai nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 và không thuộc một trong các trường hợp sử dụng đất quy định tại khoản 4 Điều này, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp thì được xử lý theo quy định sau:

a) Tại thời điểm làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với đất thuộc vùng đã có quy hoạch sử dụng đất hoặc quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị hoặc quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn (gọi chung là quy hoạch) được xét duyệt mà việc sử dụng đất phù hợp với quy hoạch đó và chưa có quyết định thu hồi đất trong trường hợp đất phải thu hồi thì được cấp Giấy chứng nhận.

Trường hợp đất có nhà ở thì người sử dụng đất không phải nộp tiền sử dụng đất đối với diện tích đất ở đang sử dụng nhưng diện tích không phải nộp tiền sử dụng đất không vượt quá hạn mức giao đất ở cho mỗi hộ gia đình, cá nhân theo quy định tại khoản 2 Điều 83 và khoản 5 Điều 84 của Luật Đất đai tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận; đối với diện tích đất ở ngoài hạn mức (nếu có) thì phải nộp tiền sử dụng đất theo mức thu quy định tại điểm a khoản 3 Điều 8 Nghị định số 198/2004/NĐ-CP.

c) Trường hợp đất đã được sử dụng trước thời điểm quy hoạch được xét duyệt nhưng tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất việc sử dụng đất không phù hợp với quy hoạch đã được xét duyệt và cơ quan nhà nước có thẩm quyền chưa có văn bản về chủ trương thu hồi đất theo quy định tại Điều 49 của Nghị định này thì người sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định tại điểm a khoản này;

d) Trường hợp đất đã được sử dụng trước thời điểm quy hoạch được xét duyệt nhưng tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất việc sử dụng đất không phù hợp với quy hoạch đã được xét duyệt và đã có chủ trương thu hồi đất bằng văn bản theo quy định tại Điều 49 Nghị định này thì người sử dụng đất không được cấp Giấy chứng nhận nhưng được sử dụng đất theo hiện trạng cho đến khi có quyết định thu hồi đất;

đ) Trường hợp quy hoạch đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt điều chỉnh mà toàn bộ hoặc một phần thửa đất phù hợp với quy hoạch điều chỉnh đó hoặc trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định hủy quy hoạch thì người sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định tại điểm a khoản này”.

Theo quy định tại khoản 4, Điều 14, Nghị định số 84/2007/NĐ-CP thì hộ gia đình, cá nhân không được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với phần diện tích đất được sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 trong trường hợp tại thời điểm bắt đầu sử dụng đất đã có một trong các hành vi vi phạm sau:

a) Vi phạm quy hoạch chi tiết xây dựng đã được cơ quan có thẩm quyền xét duyệt và công khai;

b) Vi phạm quy hoạch chi tiết mặt bằng xây dựng đã được cơ quan có thẩm quyền xét duyệt và công khai đối với diện tích đất đã giao cho tổ chức, cộng đồng dân cư quản lý;

c) Lấn, chiếm hành lang bảo vệ an toàn công trình công cộng đã được công bố, cắm mốc;

d) Lấn, chiếm lòng đường, lề đường, vỉa hè đã có chỉ giới xây dựng;

đ) Lấn, chiếm đất sử dụng cho mục đích công cộng, đất chuyên dùng, đất của tổ chức, đất chưa sử dụng và các trường hợp vi phạm khác đã có văn bản ngăn chặn nhưng người sử dụng đất vẫn cố tình vi phạm”.

Tuy nhiên cần lưu ý, hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất thuộc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 14, Nghị định số 84/2007/NĐ-CP nêu trên, nhưng phù hợp với quy hoạch tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận thì được cấp Giấy chứng nhận (khoản 5, Điều 14, Nghị định số 84/2007/NĐ-CP).

Như vậy, bạn thuộc trường hợp được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định chúng tôi viện dẫn ở trên, thì hồ sơ cấp Giấy chứng nhận được quy định tại Điều 16, Nghị định số 88/2009/NĐ-CP, cụ thể như sau:

“1. Người đề nghị cấp Giấy chứng nhận nộp một (01) bộ hồ sơ gồm có:

a) Đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận;

b) Một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 Luật Đất đai (nếu có);

c) Giấy tờ về quyền sở hữu nhà ở theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 8 của Nghị định này đối với trường hợp tài sản là nhà ở;

d) Giấy tờ về quyền sở hữu công trình xây dựng theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Nghị định này đối với trường hợp tài sản là công trình xây dựng;

đ) Bản sao các giấy tờ liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật (nếu có);

e) Sơ đồ nhà ở hoặc công trình xây dựng (trừ trường hợp trong giấy tờ quy định tại các điểm b, c và d khoản này đã có sơ đồ nhà ở, công trình xây dựng).”

Theo quy định tại Điều 11, Nghị định số 88/2009/NĐ-CP, bạn nộp hồ sơ tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường quận Hai Bà Trưng, Hà Nội để được giải quyết.

Thời gian thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ được quy định là không quá năm mươi (50) ngày làm việc đối với trường hợp cấp Giấy chứng nhận lần đầu. Thời gian này không kể thời gian công khai kết quả thẩm tra, thời gian thực hiện nghĩa vụ tài chính, thời gian trích đo địa chính thửa đất (theo Điều 12, Nghị định số 88/2009/NĐ-CP).

Luật sư Nguyễn Thị Phượng
Công ty Luật Đại Việt
Số 335 Kim Mã, Ba Đình, Hà Nội

 
Ai kết luận người mất năng lực hành vi dân sự? PDF. In Email
Thứ ba, 07 Tháng 9 2010 04:10

Bà: Võ Thị Tú (Cẩm Mỹ, Đồng Nai)

 Hỏi: Vợ chồng tôi mua bảo hiểm của công ty bảo hiểm. Khi chồng tôi chết, công ty đi xác minh và trả lời từ chối thanh toán bảo hiểm vơi lý do chồng tôi trước khi mua bảo hiểm đã là người mất năng lực hành vi dân sự. Vậy cơ sở nào để kết luận là người mất hành vi dân sự? 

 Trả lời: Điều 22 Bộ luật Dân sự quy định: Khi một người do bị tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền lợi ích liên quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định. Khi không còn căn cứ tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc người có quyền lợi ích liên quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự. Vậy cơ sở để kết luận là người mất năng lực hành vi dân sự phải bằng quyết định của Tòa án dựa trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định. 

 Tin tức từ: phapluattvn.vn

Cập nhật ngày Thứ ba, 07 Tháng 9 2010 06:58
 
Trường hợp nào được trả lại đơn khởi kiện? PDF. In Email
Thứ ba, 07 Tháng 9 2010 04:09

Ông: Trần Văn Út (Bến Lức, Long An) 

 Hỏi: Tôi vừa khởi kiện vụ án tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất với người anh họ. Mặc dù tôi đã có GCNQSDĐ, nhưng sau một thời gian nhận đơn Tòa trả lại mà không nói rõ lý do. Vậy việc trả lại đơn đúng hay sai?   

Trả lời: Điều 168 Bộ luật Dân sự quy định Tòa án trả lại đơn khởi kiện trong các trường hợp sau đây: Thời hiệu khởi kiện đã hết; Người khởi kiện không có quyền khởi kiện hoặc không có đủ năng lực hành vi tood tụng dân sự; Sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lức của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp vụ án mà Tòa án bác đơn xin ly hôn, xin thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại hoặc vụ án đòi tài sản cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu do chưa đủ điều kiện khởi kiện; hết thời giạn được thông báo quy định tại khoản 2 Điều 171 của Bộ Luật này mà người khởi kiện không đến Tòa án làm thủ tục thụ lý vụ án, trừ trường hợp có lý do chính đáng; Chưa có đủ điều kiện khởi kiện; Vụ án không thuộc thẩm quyền của Tòa án.

Khi trả lại đơn khởi kiện, Tòa án phải có văn bản kèm theo ghi rõ lý do trả lại đơn khởi kiện.

                                                                                                                                                             Tin tức từ: phapluattvn.vn

 

Cập nhật ngày Thứ ba, 07 Tháng 9 2010 07:14
 
Thời hiệu yêu cầu tòa án tuyên hợp đồng vô hiệu PDF. In Email
Thứ ba, 07 Tháng 9 2010 01:48
ANTĐ) - Chồng tôi đã ký giả chữ ký của tôi để làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho người khác (diện tích đất chuyển nhượng đã được sang tên cho người mua cùng năm). Xin hỏi nay tôi có quyền nộp đơn đến toà án yêu cầu tuyên huỷ hợp đồng chuyển nhượng không?                                                                                                      

                                                 Thanh Hằng  (Vĩnh Phúc)

 

Trả lời: Tại điều 90, 91 - Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định về việc trưng cầu giám định thì việc trưng cầu giám định theo sự thoả thuận lựa chọn của các bên đương sự hoặc theo yêu cầu của một hoặc các bên đương sự, Thẩm phán ra quyết định trưng cầu giám định. Trong quyết định trưng cầu giám định phải ghi rõ tên, địa chỉ của người giám định, đối tượng cần giám định, những vấn đề cần giám định, các yêu cầu cụ thể cần có kết luận của người giám định.Trong trường hợp xét thấy kết luận giám định chưa đầy đủ, rõ ràng hoặc có vi phạm pháp luật thì theo yêu cầu của một hoặc các bên đương sự, Thẩm phán ra quyết định giám định bổ sung hoặc giám định lại. Việc giám định lại có thể do người đã tiến hành giám định trước đó thực hiện hoặc do tổ chức chuyên môn khác thực hiện theo quy định của pháp luật.Trưng cầu giám định chứng cứ bị tố cáo là giả mạo: Trong trường hợp chứng cứ bị tố cáo là giả mạo thì người đưa ra chứng cứ đó có quyền rút lại; nếu không rút lại, người tố cáo có quyền yêu cầu toà án trưng cầu giám định theo quy định tại điều 90 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Trường hợp việc giả mạo chứng cứ có dấu hiệu tội phạm thì toà án chuyển cho cơ quan điều tra hình sự có thẩm quyền.Người đưa ra chứng cứ giả mạo phải bồi thường thiệt hại nếu việc giả mạo chứng cứ đó gây thiệt hại cho người khác.Tại điều 136 - Bộ luật Dân sự quy định về: Thời hiệu yêu cầu toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu được quy định từ điều 130 đến 134 của Bộ luật Dân sự là hai năm kể từ ngày giao dịch dân sự được xác lập. Đối với các giao dịch dân sự được quy định tại điều 128, 129 của Bộ luật Dân sự thì thời hiệu yêu cầu toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu không bị hạn chế.Căn cứ các điều luật trên, trường hợp của bà cần yêu cầu toà án giám định chữ ký của bà trong hợp đồng chuyển nhượng, do không nói năm nào gia đình bà ký hợp đồng chuyển nhượng, vì vậy chúng tôi không thể tư vấn cụ thể cho bà là còn hay hết thời hiệu yêu cầu toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu hay không.LS Hoàng Thị Nhàn (VPLS Phúc Thọ, số 23 Hồ Đắc Di,  Nam Đồng, Đống Đa, Hà Nội) 

 

 

Cập nhật ngày Thứ hai, 20 Tháng 9 2010 08:17
 
«Trang đầuTrang trước12345678910Trang tiếpTrang cuối»

Trang 4 của 10
Dịch vụ
Hình ảnh
Bảng quảng cáo
Bảng quảng cáo