Thứ 4, Ngày 19 - 12 - 2018
SỐ LƯỢT TRUY CẬP
733700
FAQs


Đưa ra chứng cứ giả mạo, phải bồi thường thiệt hại PDF. In Email
Thứ ba, 07 Tháng 9 2010 01:27

Bà: Dương Thị Sáu  (Bảo lộc, Lâm Đồng)

Hỏi: Tôi đang có một vụ kiện chia thừa kế, nhưng bên tranh chấp cố tình giả mạo chứng cứ để cung cấp cho Tòa. Vậy tôi phải làm gì để đảm bảo quyền lợi của mình?

Trả lời:  Bà có quyền gửi đơn đến Tòa để yêu cầu trưng cầu giám định theo điều 91 Bộ luật tố tụng Dân sự. Trong trường hợp chứng cứ bị tố cáo là giả mạo thì người đưa ra chứng cứ đó có quyền rút lại; Nếu không rút lại, người tố cáo có quyền yêu cầu tòa án trưng cầu giám định theo điều 90 của Bộ luật này. Trường hợp giả mạo chứng cứ có dấu hiệu tội phạm, tòa án chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra hình sự có thẩm quyền. Người đưa ra chứng cứ giả mạo phải bồi thường thiệt hại nếu việc giả mạo chứng cứ đó gây thiệt hại cho người khác.

                                                                                                                                                                                               Tin tức từ: phapluattvn.vn 

 

Cập nhật ngày Thứ ba, 07 Tháng 9 2010 07:19
 
Chi phí thực hiện phân chia di sản theo pháp luật?? PDF. In Email
Thứ sáu, 06 Tháng 8 2010 01:47

Hỏi: trong trường hợp phân chia di sản theo pháp luật cần phải tiến hành các bước như thế nào, có phải ra tòa hay không ? và có phải đóng án phí hoặc chi phí phân chia di sản hay không ?
Nếu có thì tổng số tiền án phí sẽ được chia đều phải không ?

Trả lời:
Điều 684. Họp mặt những người thừa kế
1- Sau khi có thông báo về việc mở thừa kế hoặc di chúc được công bố, những người thừa kế có thể họp mặt để thoả thuận những việc sau đây:a) Cử người quản lý di sản, người phân chia di sản, xác định quyền, nghĩa vụ của những người này, nếu người để lại di sản không chỉ định trong di chúc;b) Cách thức phân chia di sản.2- Mọi thoả thuận của những người thừa kế phải được lập thành văn bản.Điều 685. Người phân chia di sản1- Người phân chia di sản có thể đồng thời là người quản lý di sản được chỉ định trong di chúc hoặc được những người thừa kế thoả thuận cử ra.2- Người phân chia di sản phải chia di sản theo đúng di chúc hoặc đúng thoả thuận của những người thừa kế theo pháp luật.3- Người phân chia di sản được hưởng thù lao, nếu người để lại di sản cho phép trong di chúc hoặc những người thừa kế có thoả thuận.Điều 686. Thứ tự ưu tiên thanh toánCác nghĩa vụ tài sản và các khoản chi phí liên quan đến thừa kế được thanh toán theo thứ tự sau đây:1- Chi phí hợp lý theo tập quán cho việc mai táng;2- Tiền cấp dưỡng còn thiếu;3- Tiền trợ cấp cho người sống nương nhờ;4- Tiền công lao động;5- Tiền bồi thường thiệt hại;6- Thuế và các món nợ khác đối với Nhà nước;7- Tiền phạt;8- Các khoản nợ khác đối với cá nhân, pháp nhân hoặc tổ chức khác;9- Chi phí cho việc bảo quản di sản;10- Các chi phí khác.Điều 687. Phân chia di sản theo di chúc1- Việc phân chia di sản được thực hiện theo ý chí của người để lại di chúc; nếu di chúc không xác định rõ phần của từng người thừa kế, thì di sản được chia đều cho những người được chỉ định trong di chúc, trừ trường hợp có thoả thuận khác.2- Trong trường hợp di chúc xác định phân chia di sản theo hiện vật, thì người thừa kế được nhận hiện vật kèm theo hoa lợi, lợi tức thu được từ hiện vật đó hoặc phải chịu phần giá trị của hiện vật bị giảm sút tính đến thời điểm phân chia di sản; nếu hiện vật bị tiêu huỷ do lỗi của người khác, thì người thừa kế có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại.3- Trong trường hợp di chúc chỉ xác định phân chia di sản theo tỷ lệ đối với tổng giá trị khối di sản, thì tỷ lệ này được tính trên giá trị khối di sản đang còn vào thời điểm phân chia di sản.Điều 688. Phân chia di sản theo pháp luật1- Khi phân chia di sản nếu có người thừa kế cùng hàng đã thành thai nhưng chưa sinh ra, thì phải dành lại một phần di sản bằng phần mà người thừa kế khác được hưởng, để nếu người thừa kế đó còn sống khi sinh ra, được hưởng; nếu chết trước khi sinh ra, thì những người thừa kế khác được hưởng.2- Những người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia di sản bằng hiện vật; nếu không thể chia đều bằng hiện vật, thì những người thừa kế có thể thoả thuận về việc định giá hiện vật và thoả thuận về người nhận hiện vật; nếu không thoả thuận được, thì hiện vật được bán để chia.Điều 689. Hạn chế phân chia di sảnTrong trường hợp theo ý chí của người lập di chúc hoặc theo thoả thuận của tất cả những người thừa kế, di sản chỉ được phân chia sau một thời hạn nhất định, thì chỉ khi đã hết thời hạn đó di sản mới được đem chia.

Cập nhật ngày Thứ bảy, 07 Tháng 8 2010 04:17
 
Mở rộng quyền sở hữu nhà cho người Việt ở nước ngoài PDF. In Email
Thứ sáu, 06 Tháng 8 2010 01:07

Từ 8/8, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, đáp ứng một số tiêu chí nhất định, có thể sở hữu nhà không hạn chế về số lượng.

Nghị định 71 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Theo đó, người có quốc tịch Việt Nam, người gốc Việt (những người đầu tư trực tiếp tại Việt Nam, người có công đóng góp cho đất nước, nhà khoa học, nhà văn hóa, người có kỹ năng đặc biệt mà cơ quan, tổ chức của Việt Nam có nhu cầu và đang làm việc tại Việt Nam, người có vợ hoặc chồng là công dân Việt Nam sinh sống ở trong nước) có thể sở hữu nhiều nhà.

Người Việt Nam định cư ở nước ngoài phải có hộ chiếu còn hạn kèm sổ tạm trú hoặc xác nhận đăng ký tạm trú của công an phường, xã nơi người đó cư trú. Riêng công dân Việt mang hộ chiếu nước ngoài nhưng có quốc tịch Việt Nam phải có thẻ tạm trú tại Việt Nam từ 3 tháng trở lên.

Đối tượng người gốc Việt thuộc diện nhà văn hóa, khoa học cũng gặp thuận lợi hơn trong việc xác nhận giấy tờ để được sở hữu nhiều nhà ở. Đối tượng này chỉ cần Thủ trưởng cấp trường đại học, cao đẳng, học viện, viện nghiên cứu mời thay vì cấp bộ, UBND tỉnh như trước đây. Việt kiều sở hữu nhà ở tại Việt Nam có hầu hết các quyền cho thuê chuyển nhượng nhưng không có quyền bảo lãnh và góp vốn.

Nghị định 71 không quy định về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở mà chỉ quy định giấy tờ chứng minh đối tượng và điều kiện người Việt Nam ở nước ngoài được sở hữu nhà tại Việt Nam.

Hoàng Lan

Cập nhật ngày Thứ bảy, 07 Tháng 8 2010 04:18
 
Đã ly hôn có cần xuất trình bản án với UBND xã? PDF. In Email
Thứ năm, 05 Tháng 8 2010 08:12

 Hỏi: Tôi và chồng tôi đã ly hôn. Sau khi nhận bản án tôi có phải trình với UBND xã không? Bà Võ Thị Huệ (Bảo Lâm, Cao Bằng)

Trả lời: Ly hôn là những thay đổi hộ tịch. Theo đó, bà có thể trực tiếp đưa bản án đã có hiệu lực pháp luật giải quyết cho ly hôn để UBND cấp xã nơi trước đây đã đăng ký kết hôn ghi vào sổ các thay đổi hộ tịch khác (Điều 41 Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch).

 
Mẹ bỏ đi, cha có quyền đăng ký khai sinh cho con PDF. In Email
Thứ năm, 05 Tháng 8 2010 08:02

Hỏi: Tôi và cô H chung sống với nhau và có một con chung sau khi sinh con được một tháng. Cô ấy giao lại con cho tôi và bỏ đi. Nay con tôi đã 5 tuổi, tôi muốn làm Giấy khi sinh cho con tôi để chuẩn bị đi học. Xin hỏi, tôi phải làm gì: Tôi muốn mẹ cháu đứng tên trong Giấy khai sinh có được không? Anh Danh Chánh pal (Cầu Kè, Trà Vinh)  

Trả lời: Trong trường hợp cha, mẹ trẻ chung sống vơi nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn, người mẹ để con lại cho người cha và bỏ đi không xác định được địa chỉ thì người cha làm thủ tục nhận con, không cần phải có ý kiến của người mẹ.Khi đăng ký khai sinh, phần ghi về người mẹ trong Giấy khai sinh và Sổ đăng ký khai sinh được ghi theo Giấy chứng sinh. Trường hợp không có Giấy chứng sinh thì ghi theo lời khai của người cha: Nếu người cha không khai về người mẹ thì để trống (Thông tư số 01/2008/TT-BTP ngày 02/06/2008 của Bộ Tư pháp).

Cập nhật ngày Thứ bảy, 07 Tháng 8 2010 04:20
 
«Trang đầuTrang trước12345678910Trang tiếpTrang cuối»

Trang 5 của 10
Dịch vụ
Hình ảnh
Bảng quảng cáo
Bảng quảng cáo