Thứ 4, Ngày 19 - 12 - 2018
SỐ LƯỢT TRUY CẬP
733700
FAQs


'Hợp đồng tài sản' trước hôn nhân không có giá trị PDF. In Email
Thứ ba, 03 Tháng 8 2010 01:06

 

Câu hỏi: Em và bạn gái muốn lấy nhau. Nhưng ba mẹ em ra điều kiện chỉ chấp nhận cho bọn em lấy nhau khi cô ấy đồng ý ký giấy chấp nhận không tranh chấp hay phân chia tài sản nếu sau này li dị. (Huy Hoàng)

Bạn gái em đồng ý ký. Vậy cho em hỏi, tờ giấy đó có hợp pháp không? Nếu không thì em phải làm sao để nó hợp pháp; cho vừa lòng ba mẹ em?

 Trả lời: Theo luật sư Thúy Hằng, việc bố mẹ bạn Huy Hoàng yêu cầu con dâu tương lai ký cam kết không phân chia tài sản khi ly hôn là không phù hợp với đạo đức xã hội và quy định pháp luật. Vì vậy, cam kết không có giá trị pháp lý.

Tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định về điều kiện kết hôn như sau:

1. Nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên;

2. Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào; không ai được cưỡng ép hoặc cản trở;

3. Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn quy định tại Điều 10 của Luật này (Người đang có vợ hoặc có chồng; Người mất năng lực hành vi dân sự; Giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời….).

Như vậy nếu hai bạn đủ điều kiện kết hôn theo quy định trên thì hai bạn có quyền kết hôn với nhau. Người yêu bạn không cần phải làm bất kỳ một cam kết nào, ba mẹ của bạn không được cản trở việc kết hôn hợp pháp của hai bạn.

Về giấy chấp nhận không được tranh chấp hay phân chia tài sản nếu sau này hai bạn ly hôn:

Đây sẽ không được coi là một giao kết hợp pháp. Theo quy định của pháp luật một trong những điều kiện để giao dịch có hiệu lực là “mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội”. (điều 122 Bộ luật dân sự năm 2005).

Giao dịch (giấy cam kết ba mẹ bạn yêu cầu) không phù hợp với đạo đức xã hội, không phù hợp với quy định của pháp luật. Vì vậy, giấy cam kết này không có giá trị pháp lý.

Hơn nữa việc phân chia tài sản khi ly hôn là phân chia tài sản chung của vợ chồng, là tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Vì vậy yêu cầu chia tài sản chung là quyền của mỗi bên.

Tại điều 169 Bộ luật dân sự cũng đã quy định: “Quyền sở hữu của cá nhân, pháp nhân và chủ thể khác được pháp luật công nhận và bảo vệ; không ai có thể bị hạn chế, bị tước đoạt trái pháp luật quyền sở hữu đối với tài sản của mình…”.

Vì lẽ đó giấy cam kết này không thể là điều kiện buộc vợ bạn phải thực hiện nếu sau này có ly hôn.

Nếu sau này có yêu cầu phân chia tài sản thì các bên hoặc tòa án sẽ xác định đâu là tài sản chung của vợ chồng và chỉ có thể phân chia những tài sản là tài sản chung của vợ chồng, còn tài sản nào là tài sản riêng (tài sản trước hôn nhân mà không nhập thành tài sản chung, tài sản được tặng cho riêng, thừa kế riêng…), tài sản của bố mẹ… không phải phân chia.

Theo quy định tại khoản 1, Điều 95 Luật HN&GĐ thì “việc chia tài sản khi ly hôn do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu tòa án giải quyết. Tài sản riêng của bên nào thì thuộc quyền sở hữu của bên đó”.

Luật sư Trần Thị Thúy Hằng
Công ty Luật TNHH Đại Việt
Số 335 Kim Mã - Ba Đình - Hà Nội

 
Nguyên tắc phân chia tài sản khi ly hôn? PDF. In Email
Thứ sáu, 09 Tháng 7 2010 15:28

VĂN BẢN PHÁP LUẬT THAM CHIẾU:

  1. Luật Hôn nhân và gia đình nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 9/6/2000 (gọi tắt là Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000);

 

 Ý KIẾN PHÁP LÝ:

 Căn cứ Điều 95 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000: Trong trường hợp vợ chồng khi ly hôn thì việc chia tài sản khi ly hôn theo các nguyên tắc sau:

1. Việc chia tài sản khi ly hôn do các bên thoả thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết. Tài sản riêng của bên nào thì thuộc quyền sở hữu của bên đó.

2. Việc chia tài sản chung được giải quyết theo các nguyên tắc sau đây:

a) Tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi, nhưng có xem xét hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

b) Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật hoặc theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần giá trị chênh lệch.

3. Việc thanh toán nghĩa vụ chung về tài sản của vợ, chồng do vợ, chồng thỏa thuận; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết.

 
Cấp giấy chứng nhận cho người đại diện PDF. In Email
Viết bởi Administrator   
Thứ bảy, 12 Tháng 6 2010 02:33
        Hỏi: Năm 1976 cha mẹ tôi có mua một căn nhà (được phường xác nhận)  và đến nay vẫn chưa làm giấy chủ quyền. Nay cha mẹ tôi đã mất và tôi có hai người chị. Nếu muốn làm giấy chứng nhận để sửa chữa nhà thì làm sao?

        Trả lời: Theo khoản 3, Điều 4 thông tư số 17 ngày 21/10/2009  của Bộ tài nguyên và môi trường, trường hợp nhiều người được thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất mà khi cấp giấy chứng nhận chưa phân chia thừa kế cho từng người thì cấp một giấy chứng nhận cho người đại diện đối với toàn bộ diện tích, tài sản gắn liền với đất để thừa kế. Việc cử người đại diện nào ghi tên vào giấy chứng nhận phải bằng văn bản thoả thuận của những người được thừa kế đã xác định (có công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật). Trên giấy chứng nhận ghi thông tin của người đại diện theo quy định, dòng tiếp theo ghi "là người đại diện của những người được thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất".

        Hai người chị của bạn có thể làm văn bản cử bạn làm người đại diện để làm thủ tục đề nghị cấp giấy chứng nhận theo quy định nêu trên. Hồ sơ nộp tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện.

 
Khỏi nộp thuế khi được chị tặng nhà PDF. In Email
Viết bởi Administrator   
Thứ bảy, 12 Tháng 6 2010 02:28

        Hỏi: Tôi được chị  ruột tặng một căn nhà giá trị 2 tỷ đồng. Tôi muốn sang qua tên mình thì có phải nộp thuế gì không?

        Trả lời: Theo khoản 4 Điều 4 Luật thuế thu nhập cá nhân, thu nhập từ thừa kế, quà tặng là bất động sản giữa vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; Cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể;…;anh, chị em ruột với nhau được miễn thuế.

        Nếu được chị ruột tặng cho nhà ở thì bạn không phải nộp thuế thu nhập cá nhân bạn chỉ phải nộp lệ phí trước bạ nhà, đất 0,5%.

 
Nhận thừa kế nhà ở tại Việt Nam PDF. In Email
Viết bởi Administrator   
Thứ bảy, 12 Tháng 6 2010 02:22

        Hỏi: Tôi là người Việt Nam đang cư trú ở nước ngoài và đã có quốc tịch nước ngoài. Cha mẹ tôi có căn nhà ở việt nam và muốn lập di chúc để lại nhà cho tôi. Vậy tôi có được quyền sở hữu căn nhà thừa kế nói trên hay không?

        Trả lời: Theo Điều 126 Luật nhà ở (đã được sửa đổi, bổ sung có hiệu lực từ ngày 01/01/2009), người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc các đối tượng sau đây được cơ quan có thẩm quyền của việt nam cho phép cư trú tại Việt Nam từ ba tháng trở lên có quyền sở hữu nhà ở để bản thân và các thành viên trong gia đình sinh sống tại Việt Nam: Người có quốc tịch Việt Nam; người gốc Việt Nam thuộc diện người về đầu tư trực tiếp tại Việt Nam theo pháp luật về đầu tư; người có công đóng góp cho đất nước; nhà khoa học, nhà văn hoá, người có kỹ năng đặc biệt mà cơ quan, tổ chức của Việt Nam có nhu cầu và đang làm việc tại việt nam; người có vợ hoặc chồng là công dân Việt Nam sinh sống ở trong nước. Trường hợp người gốc Việt Nam được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp giấy miễn thị thực và được phép cư trú tại Việt Nam từ ba tháng trở lên thì có quyền sở hữu một nhà ở riêng lẻ hoặc một căn hộ chung cư tại Vệt Nam.

        Nếu thuộc một trong các đối tượng nói trên, thì ông sẽ được thừa kế theo di chúc. Ngược lại, nếu không thuộc diện được sở hữu nhà ở tại việt nam thì ông chỉ được hưởng giá trị của căn nhà (theo Điều 65, 68 Nghị định số 90 ngày 06/09/2006 của Chính phủ).

 
«Trang đầuTrang trước12345678910Trang tiếpTrang cuối»

Trang 7 của 10
Dịch vụ
Hình ảnh
Bảng quảng cáo
Bảng quảng cáo