Thứ 4, Ngày 19 - 12 - 2018
SỐ LƯỢT TRUY CẬP
733700
FAQs


Độ tuổi lập Di chúc PDF. In Email
Viết bởi Administrator   
Thứ năm, 04 Tháng 3 2010 01:38

Hỏi: Tôi năm nay 25 tuổi, hiện đang mắc bệnh chưa biết có thể chữa khỏi hay không nên tôi muốn lập di chúc để lại tài sản của tôi cho bố mẹ tôi và một số người thân khác. Vậy ở độ tuổi của tôi có thể lập di chúc để lại tài sản không ?

Trả lời: Theo quy định tại Điều 647 Bộ luật Dân sự về người lập di chúc thì người đã thành niên có quyền lập di chúc, trừ trường hợp người đó mắc bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình. Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có thể lập di chúc nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.

          Người đã thành niên là người từ đủ 18 tuổi trở lên, Như vậy anh hoàn toàn có quyền lập di chúc để lại tài sản của mình cho người khác. Nội dung và hình thức di chúc của anh cũng phải tuân theo những quy định của pháp luật dân sự về di chúc.

 
Không mộc đỏ, di chúc bị “chê”? PDF. In Email
Viết bởi Administrator   
Thứ năm, 25 Tháng 2 2010 00:00

Các cơ quan công chứng khẳng định vẫn tiếp nhận bình thường các di chúc không có công chứng, chứng thực.

Ông Trần Cẩm Châu (phường 15, quận 5, TP.HCM) phản ánh: Ông được người anh để lại di chúc cho ông thừa hưởng một thửa đất tại huyện Củ Chi. Di chúc bằng văn bản có người làm chứng nhưng không được cơ quan thẩm quyền công chứng hay chứng thực. Sau khi người anh mất, ông Châu đã mang bản di chúc trên đến các phòng công chứng trên địa bàn TP.HCM để làm thủ tục khai nhận di sản. Nhưng nhiều phòng công chứng đã từ chối tiếp nhận hồ sơ của ông, viện lẽ di chúc thiếu dấu công chứng, chứng thực.

Điều 650 Bộ luật Dân sự quy định có bốn loại di chúc được pháp luật thừa nhận: di chúc bằng văn bản không có người làm chứng; di chúc bằng văn bản có người làm chứng; di chúc bằng văn bản có công chứng; di chúc bằng văn bản có chứng thực. Liệu có nhầm lẫn gì trong phản ánh của ông Châu?

Ông Đỗ Hà Hồng, Trưởng phòng Công chứng số 5, cho biết: “Không rõ ông Châu đã đến phòng công chứng nào chứ phòng chúng tôi vẫn tiếp nhận bình thường những hồ sơ tương tự như của ông Châu. Nhưng vì chưa rõ tính xác thực của những di chúc không dấu mộc nói trên nên để tránh những phiền phức về sau, chúng tôi sẽ đề nghị cơ quan chức năng giám định chữ viết và chữ ký rồi mới giải quyết hồ sơ”.

Ông Trần Anh Tuấn, Trưởng phòng Công chứng số 3, cũng cho biết: “Trước giờ phòng chúng tôi chưa nhận được các yêu cầu liên quan đến hai loại di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực. Song nếu có tiếp nhận thì chúng tôi cũng không thể từ chối mặc dù việc xác minh rất tốn kém thời gian. Theo Luật Công chứng, trong trường hợp có căn cứ cho rằng hồ sơ yêu cầu công chứng có vấn đề chưa rõ, hoặc có sự nghi ngờ đối tượng của giao dịch không có thật thì công chứng viên có quyền đề nghị đương sự làm rõ hoặc tiến hành xác minh, yêu cầu giám định. Trường hợp không làm rõ được thì cơ quan công chứng mới từ chối công chứng”.

Bà Nguyễn Thị Tạc, Trưởng văn phòng Công chứng, nói: “Nếu di chúc có người làm chứng thì công chứng viên có thể mời những người này đến xác minh tính xác thực của di chúc. Còn nếu di chúc không có người làm chứng thì công chứng viên cần làm rõ di chúc đó có phải do chính người chủ tài sản làm hay không… Càng làm chặt chẽ thì càng hạn chế được những tranh chấp sau này”.

THÁI HIẾU - phapluattp.vn

 
Mua bán đất bằng giấy tay sẽ bị tòa án tuyên vô hiệu PDF. In Email
Viết bởi Administrator   
Thứ hai, 24 Tháng 8 2009 05:19
Tôi mua đất với giá 500 triệu đồng và được viết giấy tay xác nhận nhưng không công chứng. Đã gần 2 năm, người bán trốn tránh không giao đất hoặc trả lại tiền. Nếu tôi khởi kiện, Tòa án sẽ giải quyết thế nào?. (Trần Hoàng Long, TP HCM).

Trả lời:

Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 119 Nghị định số 181/2004 ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai (đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 17/2006 ngày 27/1/2006), hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải có chứng nhận của công chứng hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất.

Việc anh mua đất nhưng chỉ viết giấy tay, không lập thành hợp đồng và không có chứng nhận của công chứng hoặc chứng thực của UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất nên giao dịch đó bị coi là vô hiệu “”, vi phạm quy định tại Điều 134 Bộ luật dân sự.

Trong trường hợp anh khởi kiện ra Tòa án và Tòa án tuyên giao dịch giữa anh và người chuyển nhượng quyền sử dụng đất là vô hiệu, người chuyển nhượng phải hoàn trả cho anh số tiền đã nhận. Ngoài ra, Tòa án sẽ xem xét lỗi của các bên để buộc bên có lỗi phải bồi thường thiệt hại cho bên kia. Theo hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao tại Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 về việc hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, thiệt hại còn bao gồm khoản tiền chênh lệch giá trị quyền sử dụng đất do các bên thoả thuận với giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm xét xử sơ thẩm hoặc các thiệt hại khác, nếu có.

Tòa án cấp quận, huyện là cơ quan có thẩm quyền xét xử tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nơi bị đơn cư trú có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm vụ án dân sự do anh khởi kiện.

Trong trường hợp bị đơn không có nơi cư trú nhất định, anh có thể khởi kiện tại Tòa án nơi có mảnh đất chuyển nhượng (theo điểm c khoản 1 Điều 35 BLTTDS). Về thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp hợp đồng dân sự, Điều 427 Bộ luật Dân sự quy định là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân anh xâm phạm.

Thạc sĩ Phạm Thanh Bình

 
Công chứng, chứng thực hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng đất trong trường hợp bên có đất là tổ chức PDF. In Email
Viết bởi Administrator   
Thứ bảy, 15 Tháng 8 2009 02:46

Công ty trách nhiệm hữu hạn X được Nhà nước cho thuê một thửa đất có diện tích đất 2500m2 với hình thức trả tiền thuê đất cho cả thời gian thuê. Tháng 9 năm 2006, để phát triển sản xuất kinh doanh, Công ty X lên kế hoạch xây dựng thêm một khu nhà xưởng nhưng do thiếu vốn nên Ban lãnh đạo Công ty X đã quyết định cho Công ty Y tham gia góp vốn để cùng xây dựng khu nhà xưởng nêu trên và cùng phát triển sản xuất, kinh doanh với phương thức: Công ty X là bên có đất, Công ty Y là bên góp vốn, việc góp vốn không hình thành pháp nhân mới và lợi nhuận thu được hàng năm sẽ được phân chia theo tỷ lệ góp vốn của mỗi bên. Sau khi đã thoả thuận về việc góp vốn như trên, hai công ty đã lập hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng đất và cử người đại diện đến Uỷ ban nhân dân thị trấn nơi có đất của Công ty X để yêu cầu chứng thực hợp đồng góp vốn đó.
Cán bộ tư pháp - hộ tịch của Uỷ ban nhân dân thị trấn sẽ giải quyết trường hợp trên như thế nào?

 
 
Trả lời

Đây là trường hợp một tổ chức kinh tế muốn giao kết hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng đất và yêu cầu chứng thực hợp đồng đó. Để giải quyết tốt tình huống này, là cán bộ tư pháp - hộ tịch của Uỷ ban nhân dân thị trấn, trước hết cần phải xác định xem yêu cầu chứng thực của Công ty X có thuộc thẩm quyền giải quyết của Uỷ ban nhân dân cấp xã hay không.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 131 Luật Đất đai năm 2003 thì “Hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải có chứng nhận của Công chứng nhà nước; trường hợp hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân thì được lựa chọn hình thức chứng nhận của Công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất” và quy định này được hướng dẫn một cách cụ thể hơn tại điểm 2.1 khoản 1 Mục I Thông tư liên tịch số 04/2006/TTLT/BTP-BTNMT như sau: “hợp đồng, văn bản về bất động sản mà bên có bất động sản là tổ chức trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài thì công chứng tại Phòng Công chứng”.
Như vậy, theo quy định trên có thể thấy yêu cầu chứng thực hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng đất của Công ty X không thuộc thẩm quyền giải quyết của Uỷ ban nhân dân thị trấn nơi có đất mà thuộc thẩm quyền của Phòng Công chứng. Vì vậy, khi đại diện của Công ty X đến yêu cầu chứng thực, cán bộ tư pháp - hộ tịch của Uỷ ban nhân dân thị trấn cần từ chối yêu cầu đó và giải thích rõ lý do cho người yêu cầu, đồng thời hướng dẫn họ đến Phòng Công chứng của tỉnh để được giải quyết công việc của mình.

 

Trả lời bởi Admin Portal ngày 17/06/2009.

Cập nhật ngày Thứ tư, 24 Tháng 2 2010 09:03
 
Tôi có thể sử dụng quyền sử dụng đất của tôi để bảo đảm cho hai nghĩa vụ được không? PDF. In Email
Viết bởi Administrator   
Thứ năm, 05 Tháng 3 2009 03:58
 
Cập nhật ngày Thứ năm, 05 Tháng 3 2009 04:08
Xem chi tiết...
 
«Trang đầuTrang trước12345678910Trang tiếpTrang cuối»

Trang 8 của 10
Dịch vụ
Hình ảnh
Bảng quảng cáo
Bảng quảng cáo